Công Đoàn Giáo dục Quảng Bình ra đời, xây dựng và phát triển (Tiếp theo) 
 Giai đoạn 1965-1975:

Trong lúc phong trào đang phát triển sâu rộng và đi vào chiều sâu sau “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” ngày 07/02/1965 giặc Mỹ đã huy động một lực lượng lớn không quân, hải quân đánh phá Quảng Bình - Vĩnh Linh bắt đầu  cuộc chiến tranh phá hoại vô cùng ác liệt miền Bắc mà chúng ta là tuyến đầu tuyến lửa.

Thực hiện chủ trương của TW lãnh đạo cùng công đoàn các Nhà trường động viên CB, đoàn viên CĐ chuẩn bị sơ tán, đào hầm hào trú ẩn cho học sinh, triệt để phân tán trường học thành nhiều điểm sơ tán trường lớp xa các trọng điểm ác liệt. Phải nói năm học 1964-1965 năm học hết sức khó khăn, ta phải đương đầu với máy bay đánh phá, là gồng lưng chống 8 trận lũ lớn xảy ra, thiên tai, dịch hoạ tới tấp dội xuống, cùng với toàn Đảng toàn dân, các cấp chính quyền vàocong đoàn trường đã động viên CB, ĐV cố gắng luôn giành thế chủ động để duy trì dạy học, củng cố Nhà trường và kết thúc năm học thắng lợi, kỹ năng tạo được niềm tin cho học sinh và nhân dân, và cho thấy rằng khả năng giáo dục có thể đứng vững trước bom đạn giặc Mỹ.

Từ năm học 1965-1966 ta thực hiện chủ trương chuyển hướng toàn bộ sự nghiệp giáo dục thích ứng với thời chiến trên toàn huyện. Động viên toàn bộ CB, GV, đoàn viên chuyển hướng “phong trào thi đua dạy tốt, học tốt xây dựng trường tiên tiến chống Mỹ cứu nước”, phát triển mạnh cấp I về HTX, phát triển cấp II ở xã tiếp tục phát triển cấp III.

Cùng với chuyên môn,ocong đoàn các cấp đã chỉ đạo, động viên CB, GV, CNV tiếp tục mở thêm những điểm trường mới quyết không để con em thất học nhiều điểm trường và tên trường xuất hiện để đáp ứng yêu cầu vừa duy trì hoạt động dạy học, vừa tránh được máy bay Mỹ bắn phá, đội ngũ giáo viên, ban giám hiệu Nhà trường cùng Công đoàn động viên tổ chức lớp học 3 ca, không ít giáo viên cấp 2 dạy trên 30 tiết 1 tuần trong lúc lương thấp, tiền dạy trao chậm, tiêu chuẩn lương thực phẩm, tem phiếu cung ứng không kịp thời, sức khoẻ nhiều CBGV sảm sút hẳn nhưng biết dựa vào dân, được dân tin, yêu mến nên không rời bục giảng. Giặc Mỹ càng đánh phá ác liệt, công tác an toàn tính mạng được đặt lên hàng đầu. Đội ngũ CB, GV, ĐV quyết không để gián đoạn học hành, địch đánh ngày ta tổ chức học đêm, địch đánh trường ta chuyển vào nhà dân, địch nhả bom bi ta làm nhà hầm để học, học sinh đội mũ rơm, hệ thống giao thông hào được nhân dân và giáo viên đào từ nhà đến lớp học hầm. Mùa hè khô nóng mùa mưa ẩm ướt nhưng không thể cản trở những buổi lên lớp. Hoạt động dạy học vẫn duy trì.

Thời kỳ 1966-1968 đây là thời kỳ khó khăn. Máy bay Mỹ bắn vào bất kỳ chỗ nào, nhiều làng mạc bị bom Mỹ bắn cháy tiêu điều xơ xác. Không một ngôi trường nào không một xóm làng nào khỏi bị bắn phá, nhưng không một ngôi trường nào bị đóng cửa, giáo dục tỉnh nhà vẫn tồn tại. Vì học sinh thân yêu, vì để giáo dục duy trì giữ vững, nhiều thầy cô và học sinh thân yêu đã ngã xuống trên bục giảng vì học sinh và mái trường thân yêu. Như một nghịch lý, chiến tranh càng tàn khốc thì CBGV càng vững vàng, càng say sưa vì học sinh, trường lớp, càng chững chạc, càng sáng tạo. Với quyết tâm “Bám trường bám lớp”, “Lớp học là chiến trường, học sinh là chiến sĩ, học giỏi là thắng Mỹ”. “Tất cả vì học sinh thân yêu”. Thấm lời Bác dặn: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt học tốt”. Giữa chiến tranh ác liệt, đời sống kham khổ dưới sự lãnh đạo của Nhà trường và tổ chức công đoàn, cán bộ giáo viên, đoàn viên tự động viên vẫn đảm bảo nghiêm túc công tác, xem chương trình là pháp lệnh giảng tinh giản nhưng vẫn đảm bảo kiến thức cơ bản, vững chắc tìm mọi cách duy trì, nâng cao chất lượng. Đêm họp Bộ tứ, ngày lên bục giảng.

Hoà trong nhịp độ sôi động đó, phong trào "3 đảm đang " đã tác động mạnh mẽ đến nhà trường. Đội ngũ chị em đã sớm  nhận rõ những bước đáng lo thực tế cuộc sống đòi hỏi, đã vươn lên không quản chân yếu tay mềm chị em đã vận chuyển thương binh, lo cơm cháo chăm sóc thương binh, vá áo cho bộ đội, hướng dẫn học sinh bắt sâu hại lúa. Cùng thi đua soạn giảng, “Trường 3 đảm đang” ra đời ( toàn trường đều nữ), động viên chồng con đồng nghiệp lên đường đánh Mỹ.

Giữa những ngày tháng ác liệt của chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, các nhà trường  cùngocong đoàn động viên đội ngũ tham gia lấp hố bom, nguỵ trang trận địa, lau súng đi dân công hoả tuyến, mở đường thông xe, dạy BTVH trong quân đội chi viện bạn Lào. Chiến tranh ác liệt, bao thầy, cô giáo lại dẫn dắt học sinh đi K8 sơ tán giúp Vĩnh Linh đưa học sinh K10. Người ở lại hậu phương, ở lại quê hương với mái trường, học sinh, bài giảng thân yêu, người lên đường ra trận biết bao lần tiễn đưa, lưu luyến bịn rịn, lo âu, thương nhớ. Nhiều đồng nghiệp của chúng ta đã trở thành dũng sỹ, và cũng có những người ngã xuống và trở thành liệt sĩ, biết bao đồng nghiệp trở về trên mình còn nhiều thương tích của chiến tranh. Nhiều người vợ đã trở thành “hòn vọng phu”. Chúng ta nghiêng mình tưởng niệm linh hồn các đồng nghiệp đã thanh thản hi sinh cho sự nghiệp bảo vệ, thống nhất tổ quốc, cho sự nghiệp giáo dục.